Tuesday, May 24, 2016

Câu 19: Những nội dung cơ bản của lập ngân sách theo kết quả đầu ra



Câu 19: Những nội dung cơ bản của lập ngân sách theo kết quả đầu ra

1. Giới thiệu về lập ngân sách theo kết quả đầu ra
Trong quản lý chi tiêu công có các phương thức lập ngân sách, đó là phương thức lập ngân sách theo khoản mục, lập ngân sách theo công việc thực hiện, lập ngân sách theo chương trình và lập ngân sách theo kết quả đầu ra.

1.1. Lập ngân sách theo khoản mục
Đối với phương thức lập ngân sách theo khoản mục, chi tiêu ngân sách được khoản mục hoá. Những khoản mục này luôn được chi tiết và định rõ khoản chi tiêu cho từng tiểu mục chi. Với phương thức này, các cơ quan, đơn vị phải chi tiêu theo đúng khoản mục quy định và cơ chế trách nhiệm giải trình tập trung vào các yếu tố đầu vào.
Lập ngân sách chi tiêu công theo khoản mục có ưu điểm là đơn giản và kiểm soát chi tiêu dễ dàng bằng việc so sánh với các năm trước thông qua việc ghi chép chi tiết các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên, phương thức này bộc lộ những nhược điểm như chỉ nhấn mạnh đến khâu lập ngân sách với các khoản chi tiêu có tính chất tuân thủ mà Nhà nước đưa ra; sự phân phối nguồn lực tài chính không trả lời được câu hỏi tại sao lại chi tiêu cho việc đó; ngân sách chỉ được lập trong thời gian ngắn hạn là 1 năm; không chú trọng đúng mức đến tính hiệu quả trong phân bổ nguồn lực và hiệu quả hoạt động trong việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.

1.2. Lập ngân sách theo công việc thực hiện
Lập ngân sách theo công việc thực hiện phân bổ nguồn lực theo những khối lượng hoạt động của mỗi cơ quan, đơn vị trên cơ sở gắn kết công việc với chi phí bỏ ra. Lập ngân sách theo công việc thực hiện cho phép ngân sách được xây dựng không gia tăng thêm mà dựa vào khối lượng công việc được dự đoán trước. Đây là phương thức thể hiện sự thay đổi từ quy trình lập ngân sách dựa vào kiểm soát chi tiêu đến việc lập ngân sách dựa trên cơ sở những quan tâm về hiệu quả quản lý.
Tuy nhiên, phương thức này cũng bộc lộ những hạn chế như không chú trọng đúng mức đến những tác động hay ảnh hưởng dài hạn của chính sách. Mặt khác, lập ngân sách theo công việc thực hiện được thiết kế hướng vào thực hiện tất cả các mục tiêu trong khi nguồn lực là có giới hạn nên nó đã không quan tâm đúng mức đến tính hiệu quả của chi tiêu ngân sách nhà nước.

1.3. Lập ngân sách theo chương trình
Lập ngân sách theo chương trình tập trung vào sự lựa chọn của ngân sách trong số các chính sách, chương trình có tính cạnh tranh. Lập ngân sách theo chương trình thiết lập một hệ thống phân phối nguồn lực, gắn kết chi phí chương trình với kết quả của những chương trình đầu tư công. Đây là phương thức lập ngân sách đòi hỏi các mục tiêu chương trình phải kéo dài hơn một năm ngân sách. Bên cạnh đó việc lập ngân sách theo chương trình yêu cầu phải đo lường tính hiệu quả, nghĩa là đo lường đầu ra và tác động đến mục tiêu.
Lập ngân sách theo chương trình cũng bộc lộ những hạn chế như không thể tạo ra chương trình cho tất cả các cơ quan, đơn vị thực hiện; không đảm bảo gắn kết việc thiết lập chương trình công với kế hoạch chi tiêu thường xuyên để sử dụng nguồn lực tài chính công hiệu quả. 

1.4. Lập ngân sách theo kết quả đầu ra
Lập ngân sách theo kết quả đầu ra là một công cụ vô cùng quan trọng trong quản lý chi tiêu công, tạo điều kiện sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt được kết quả mong muốn.
Lập ngân sách theo kết quả đầu ra là phương thức lập ngân sách dựa trên cơ sở tiếp cận thông tin đầu ra để phân bổ và đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển đất nước.

2. Đặc điêm của phương thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra
- Ngân sách được lập theo tính chất mở, công khai, minh bạch;
- Các nguồn tài chính của Nhà nước được tổng hợp toàn bộ trong dự toán ngân sách nhà nước;
- Ngân sách được lập theo thời gian trung hạn;
- Ngân sách được lập căn cứ theo nhu cầu thực tế, hướng tới người thụ hưởng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội;
- Ngân sách được hợp nhất giữa kế hoạch chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển;
- Ngân sách được lập dựa trên nguồn lực được tính trong thời gian trung hạn và do vậy cần có sự cam kết chặt chẽ;
- Việc phân bổ ngân sách dựa trên thứ tự ưu tiên chiến lược;
- Cơ quan quản lý được trao nhiều trách nhiệm hơn trong quản lý chi tiêu công.
Quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra có tầm quan trọng đặc biệt khi những quyết định về tài chính được phân cấp từ trung ương đến địa phương. Nó tạo ra mối liên kết giữa các mục tiêu, chính sách của Nhà nước và việc khoán kinh phí từ trung ương cho các địa phương được phân cấp; các nguồn lực được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên.
Quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra nhằm mục đích:
- Tăng cường quản lý, tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương. Đặt ra những mục tiêu rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện cho các cơ quan ở khu vực đạt được mục tiêu của mình thông qua khung kế hoạch, quản lý và hoạt động rõ ràng;
- Gắn các yếu tố đầu vào thuộc nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác với kết quả đầu ra dự kiến để đạt được mục tiêu và giúp cho việc phân bổ nguồn lực thể hiện được những ưu tiên;
- Tập trung vào kết quả đầu ra chính và các ưu tiên chính hơn là thực hiện các hoạt động hoặc quy trình.

3. Vai trò (ý nghĩa) của phương thức lập kế hoạch theo kế quả đầu ra
- Góp phần đổi mới chính sách quản lý nguồn lực tài chính trong khu vực công, nhằm thiết lập ba vấn đề trong quản lý chi tiêu công là : tôn trọng kỷ luật tài chính tổng thể; phân bổ có hiệu quả nguồn lực tài chính theo những chiến lược ưu tiên; nâng cao hiệu quả trong quản lý chi tiêu công;
- Đặt Nhà nước vào vị trí để đảm bảo rằng: các đầu ra theo yêu cầu để được tài trợ phải xác định rõ ràng sẽ đóng góp gì cho kết quả; các đầu ra theo yêu cầu để được tài trợ phải xác định rõ khối lượng, chất lượng và giá cả cụ thể; các đầu ra hướng tới mục tiêu và được cung cấp trong phạm vi thời gian yêu cầu;
- Tăng cường các nguyên tắc quản lý tài chính của khu vực công với mục tiêu là cải thiện sự phân phối và quản lý nguồn lực, cũng như tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước;
- Cho phép nhà quản lý ngân sách có được những thông tin hữu ích nhằm xác định những kết quả mong muốn; những gì nên làm và những gì sẽ được làm ra; kiểm tra được sự liên quan giữa đầu vào và đầu ra của quá trình chi tiêu công; xác định nguồn lực tài trợ cho các đầu ra ưu tiên để đạt được kết quả mong muốn.

Câu 18: Các vấn đề về chi tiêu công



Câu 18: Các vấn đề về chi tiêu công

1.1. Khái niệm chi tiêu công
Chi tiêu công là các khoản chi của Chính phủ từ ngân sách nhà nước và các quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm cung cấp các hàng hoá và dịch vụ công. Chi tiêu công phản ánh các sự lựa chọn chính sách của Chính phủ. Mỗi quyết định chính sách do Chính phủ đưa ra đều phản ánh chi phí để thực hiện các quyết định đó.
Chi tiêu công là các khoản chi tiêu từ các quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Chi tiêu công bao gồm chi ngân sách nhà nước và chi tiêu từ các quỹ ngoài ngân sách.
Chi tiêu công phản ánh chi phí xã hội đối với các quyết định của Chính phủ. Như vậy, theo nghĩa rộng, chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chính quyền các cấp, các doanh nghiệp và dân cư khi cùng trang trải kinh phí cho các hoạt động do Chính phủ quản lý.
Tuy nhiên trên thực tế, người ta khó có thể tính toán đầy đủ các chi phí của xã hội đối với quyết định của Chính phủ. Do đó, người ta thường đề cập đến chi tiêu công theo nghĩa hẹp.
Chi tiêu công phản ánh giá trị của các hàng hoá mà Chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hoá công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Thông qua các khoản chi tiêu công đó, Nhà nước cung cấp cho xã hội những hàng hoá mà khu vực tư không có khả năng cung cấp hoặc cung cấp không có hiệu quả mà nguồn chi được lấy từ các khoản thu của xã hội như thuế, phí và lệ phí. Như vậy, Nhà nước thực hiện tái phân phối thu nhập xã hội công bằng hơn, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững.

1.3. Đặc điêm của chi tiêu công
- Chi tiêu công phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia. Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội của Nhà nước và cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó, Nhà nước đã cung cấp một lượng hàng hoá công khổng lồ cho nền kinh tế;
- Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện. Các khoản chi tiêu công do chính quyền các cấp đảm nhận theo các nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển kinh tế - xã hội;
- Chi tiêu công mang tính chất công cộng, tương ứng với những đơn đặt hàng của Chính phủ về mua hàng hoá, dịch vụ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước;
- Chi tiêu công mang tính chất không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu đều được hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu công.

1.4. Vai trò của chi tiêu công đối với sự phát triên kinh tế - xã hội
- Chi tiêu công có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư của khu vực tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện thông qua các khoá chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Việc Nhà nước tạo ra các hàng hoá công tạo điều kiện nâng cao chất lượng sống của dân chúng và góp phần điều chỉnh nền kinh tế theo những mong muốn của Nhà nước;
- Chi tiêu công góp phần điều chỉnh chu kỳ kinh tế. Chi tiêu công hình thành nên một thị trường đặc biệt. Chính phủ tiêu thụ một khối lượng hàng hoá khổng lồ đã làm cho tổng cầu của nền kinh tế gia tăng một cách đáng kể. Tổng cầu của nền kinh tế tăng, nâng cao khả năng thu hút vón và kích thích sản xuất phát triển. Như vậy, thị trường của Chính phủ lại trở thành công cụ kinh tế quan trọng của Chính phủ nhằm tái tạo lại cân bằng của thị trường hàng hoá khi bị mất cân đối bằng cách tác động vào các quan hệ cung cầu thông qua việc tăng hay giảm mức độ chi tiêu công ở thị trường này;
- Chi tiêu công góp phần tái phân phối thu nhập xã hội giữa các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội. Nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi tiêu công để tái phân phối lại thu nhập của xã hội. Với công cụ thuế mang tính chất động viên nguồn thu cho Nhà nước, thì công cụ chi tiêu công mang tính chất chuyển giao thu nhập đó đến những người có thu nhập thấp thông qua các chương trình phúc lợi xã hội.

1.5. Yêu cầu đối với quản lý chi tiêu công
Quản lý chi tiêu công phản ánh hoạt động tổ chức, điều khiển và ra quyết định của Nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước. Nói cách khác, chi tiêu công là một trong những thuộc tính vốn có khách quan của tài chính công, phản ánh sự phân phối nguồn lực tài chính của Nhà nước.
Trong quản lý chi tiêu công, Nhà nước là người trực tiếp tổ chức, điều khiển quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính công với mục tiêu là thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững.
Quản lý chi tiêu công có hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các dịch vụ nhằm tăng trưởng nền kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Quản lý chi tiêu công gắn liền với quá trình lập ngân sách nhà nước, phản ánh về mặt tài chính các lựa chọn kinh tế và xã hội của Nhà nước.
Do đó, các yêu cầu đặt ra đối với quản lý chi tiêu công như sau:

1.5.1. Tôn trọng kỷ luật tài chính tông thể
Đối với một nền kinh tế, nguồn lực tài chính để thoả mãn các nhu cầu là có giới hạn, nếu để chi tiêu ngân sách vượt quá khả năng đáp ứng của nguồn lực tài chính sẽ dẫn đến những hậu quả: gia tăng gánh nặng nợ của nền kinh tế trong tương lai; gia tăng gánh nặng về thuế; phá vỡ cân bằng kinh tế (cân bằng tiết kiệm - đầu tư, cân bằng cán cân thanh toán), từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy, cần phải tôn trọng kỷ luật tài chính tổng thể để ổn định kinh tế vĩ mô. Kỷ luật tài chính tổng thể trước hết yêu cầu giới hạn tổng chi tiêu phải được thiết lập dựa trên các chỉ tiêu tổng thể vĩ mô như: quy mô GDP; tỷ suất thu/GDP; sự gia tăng chi hàng năm trong tổng GDP; tỷ lệ nợ/GDP; tỷ lệ tiết kiệm đầu tư/GDP; mức độ thâm hụt cán cân thanh toán.. Giới hạn tổng chi tiêu ngân sách phải được giám sát, được duy trì, giữ vững ổn định.
Tiếp theo nó yêu cầu chi ngân sách phải được thiết lập một cách độc lập và trước khi ra quyết định chi tiêu từng phần (từng khoản mục trong chi tiêu ngân sách).
Việc xây dựng trong khuôn khổ tài chính luôn là trách nhiệm của các cơ quan trung ương. Trần chi tiêu tài chính tổng thể nên đưa vào trong các cuộc thảo luận của Chính phủ để phân tích tính hợp lý của chính sách tài chính trong những năm ngân sách tiếp theo.
Trong quá trình lập kế hoạch, mức trần có thể được điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội, nhưng sự điều chỉnh được kiềm ché ở mức tối thiểu để bảo đảm tính minh bạch.
Một sự ràng buộc quan trọng nữa đối với những người hoạch định chính sách là yêu cầu họ phải tổng hợp tất cả những khoản chi tiêu thực tế vào dự toán ngân sách trong suốt quá trình chấp hành ngân sách và công khai khi kết thúc năm ngân sách.
Tính toàn diện và minh bạch là những điều kiện cần thiết cho kỷ luật tài chính tổng thể hiệu quả.

1.5.2. Phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính theo những chiến lược ưu tiên
Sau khi đã các định kỷ luật tài chính tổng thể, vấn đề quan trọng trong quản lý chi tiêu công là làm thế nào để ưu tiên những nhu cầu hay mục tiêu có tính cạnh tranh với nguồn lực tài chính khan hiếm. Nói cách khác, đối với một nền kinh tế, do nguồn lực tài chính là có hạn, cho nên Chính phủ cần phải đánh đổi và lựa chọn giữa các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.

1.5.3. Tính hiệu quả trong quản lý chi tiêu công
Trong quản lý chi tiêu công, Nhà nước cần phải cung cấp hàng hoá công với mức chi phí hợp lý để đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Để làm được điều này đòi hỏi:
- Người quản lý phải được trao quyền tự chủ trong việc điều hành hoạt động và nâng cao tính chịu trách nhiệm của họ về kết quả đạt được;
- Người quản lý phải có đủ năng lực và chủ động đề ra những giải pháp làm giảm chi phí hoạt động và nâng cao khối lượng hoặc chất lượng đầu ra cung cấp cho xã hội;
- Tạo ra những đòn bẩy kinh tế khuyến khích người quản lý cải thiện và nâng cao chất lượng hoạt động.
Các cơ chế cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công là:
- Những người quản lý nên được trao quyền tự chủ rộng rãi trong việc sử dụng nguồn lực tài chính. Thực hiện tốt chế độ khoán chi để người quản lý chủ động trong phân bổ nguồn lực và tạo động lực kích thích họ tiết kiệm chi phí và nâng cao kết quả hoạt động. Đồng thời cần tăng cường chế độ khuyến khích vật chất và chịu trách nhiệm vật chất của người quản lý;
- Thiết lập hệ thống thông tin minh bạch. Những thông tin tài chính về công việc thực hiện cần được công khai trong các bản báo cáo hàng năm và trong các tài liệu khác;
- Những kết quả cần được chi tiết hoá trong ngân sách và trong những bản báo cáo tài chính có liên quan, qua đó tạo điều kiện cho người quản lý thấy trước kết quả thực hiện và giúp cho Chính phủ so sánh được kết quả mục tiêu và kết quả thực tế;
- Phải tách bạch giữa người mua và người cung cấp, đồng thời tăng cường vai trò kiểm soát của thị trường;
- Tăng cường kiểm soát bên trong và bên ngoài, tăng cường trách nhiệm giải trình đối với việc sử dụng nguồn lực.

Câu 17: Các vấn đề về phân cấp quản lý ngân sách



Câu 17: Các vấn đề về phân cấp quản lý ngân sách

1. Khái niệm
Phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp trong quản lý, điều hành nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước.
Phân cấp quản lý ngân sách giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động của ngân sách nhà nước trong 3 nội dung sau: quan hệ về mặt chế độ chính sách; quan hệ vật chất về nguồn thu và nhiệm vụ chi; quan hệ về quản lý chu trình ngân sách.
Theo Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2002: “Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân”. Như vậy, hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm:
- Ngân sách trung ương;
- Ngân sách tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương);
- Ngân sách huyện (quận, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh);
- Ngân sách xã (phường).

2. Sự cần thiết và tác dụng của phân cấp quản lý ngân sách
Chế độ phân cấp quản lý ngân sách ở nước ta ra đời từ năm 1967, đến nay đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất định nhằm giải quyết nhiều vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương trong quản lý ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương là tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thông ngân sách nhà nước gồm nhiều cấp. Điều đó không chỉ bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý về hành chính. Mỗi cấp chính quyền địa phương đều có nhiệm vụ riêng cần được bảo đảm bằng những nguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp tự đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ hiệu quả hơn là có sự áp đặt từ trên xuống. Mặt khác, xét về yếu tố lịch sử và thực tế hiện nay, trong khi Đảng và Nhà nước đang chống tư tưởng địa phương, cục bộ. vẫn cần có những chính sách và biện pháp nhằm khuyến khích chính quyền địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của địa phương mình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Có một số khoản thu như: tiền cho thuê mặt đất, mặt nước, tiền cho thuê và bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, lệ phí trước bạ, thuế môn bài. giao cho địa phương quản lý sẽ hiệu quả hơn.
Phân cấp quản lý ngân sách là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của ngân sách nhà nước với các hoạt động kinh tế, xã hội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung đầy đủ và kịp thời, đúng chính sách, đúng chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân phối sử dụng chúng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Phân cấp quản lý ngân sách đúng đắn và hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì và phát triển hoạt động của các cấp chính quyền ngân sách từ trung ương đến địa phương mà còn tạo điều kiệ phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phương trong cả nước.
Phân cấp quản lý ngân sách cho phép quản lý và kế hoạch hoá ngân sách được tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như quan hệ giữa các cấp ngân sách tốt hơn để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước. Đồng thời phân cấp quản lý ngân sách còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng hoàn thiện hơn.
Tóm lại, phân cấp ngân sách đúng đắn và hợp lý, tức là việc giải quyết mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề hoạt động và điều hành ngân sách nhà nước đúng đắn và hợp lý sẽ là một giải pháp quan trọng trong quản lý ngân sách nhà nước.

3. Nội dung phân cấp quản lý ngân sách
3.1. Quan hệ giữa các cấp chính quyền về chính sách, chế độ
Về cơ bản, Nhà nước trung ương vẫn giữ vai trò quyết định các loại thu như thuế, phí , lệ phí, vay nợ và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu thực hiện thông nhất trong cả nước.
Bên cạnh đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định chế độ chi ngân sách, phù hợp với đặc điểm thực tế ở địa phương. Riêng những chế độ chi có tính chất tiền lương, tiền công, phụ cấp, trước khi quyết định phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cũng quyết định một số chế độ thu gắn với quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, gắn với chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định.

3.2. Quan hệ giữa các cấp về nguồn thu, nhiệm vụ chi
Luật Ngân sách nhà nước quy định cụ thể về nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được ổn định từ 3 - 5 năm. Bao gồm các khoản thu mà từng cấp được hưởng 100%; các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) cũng như nhiệm vụ chi của từng cấp trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc phân cấp.
Ngân sách trung ương hưởng các khoản thu tập trung quan trọng không gắn trực tiếp với công tác quản lý của địa phương như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thu từ dầu thô. hoặc không đủ căn cứ chính xác để phân chia như thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành.
Ngân sách trung ương chi cho các hoạt động có tính chất bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như: chi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, chi quốc phòng an ninh, chi giáo dục, y tế, chi bảo đảm xã hội cho trung ương quản lý. và chi hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được thu chi ngân sách.
Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu đảm bảo chủ động thực hiện những nhiệm vụ được giao, gắn trực tiếp với công tác quản lý tại địa phương như: thuế nhà, đất, môn bài, chuyển quyền sử dụng đất..
Chi ngân sách địa phương chủ yếu gắn với nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh do địa phương trực tiếp quản lý.
Bảo đảm nguồn lực cho chính quyền cơ sở cũng được luật hết sức quan tâm. Luật Ngân sách nhà nước quy định các nguồn thu về nhà đất phải phân cấp không dưới 70% cho ngân sách xã; đối với lệ phí trước bạ thì phải phân cấp không dưới 50% cho ngân sách các thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

3.3. Quan hệ giữa các cấp về quản lý chu trình ngân sách nhà nước
Mặc dù ngân sách của Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng ngân sách lồng ghép giữa các cấp chính quyền trong chu trình ngân sách nhưng quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng nhân dân các cấp trong việc quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán ngân sách đã được tăng lên đáng kể.
Bên cạnh các quyền về quản lý ngân sách có tính chất truyền thống, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh còn có nhiệm vụ:
- Quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương;
- Quyết định tỷ lệ phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương và các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương;
Ngoài ra, việc tổ chức lập dự toán ngân sách ở các địa phương được phân cấp cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định cụ thể cho từng cấp địa phương. Thảo luận về dự toán với cơ quan tài chính chỉ thực hiện vào đầu năm của thời kỳ ổn định ngân sách, các năm tiếp theo chỉ tiến hành khi địa phương có đề nghị.
Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội. Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được thu, chi:
- Mọi chính sách, chế độ quản lý ngân sách nhà nước được ban hành thống nhất và dựa chủ yếu trên cơ sở quản lý ngân sách trung ương;
- Ngân sách trung ương chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn trong nền kinh tế và xã hội.
Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu đảm bảo chủ động trong thực hiện nhiệm vụ được giao, tăng cường năng lực cho ngân sách cấp xã.
Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào thì do ngân sách cấp đó bảo đảm. Nếu cơ quan cấp trên uỷ quyền cho cơ quan cấp dưới thực hiện nhiệm vụ của mình thì phải chuyển nguồn từ ngân sách cấp trên xuống cho cấp dưới thực hiện.
Thực hiện phân chia theo tỷ lệ % đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đảm bảo thực hiện công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, địa phương. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm. Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới.

Câu 16: Các vấn đề về lập dự toán ngân sách nhà nước



Câu 16: Các vấn đề về lập dự toán ngân sách nhà nước

1.1. Khái niệm
Chu trình ngân sách nhà nước là quá trình hoạt động của ngân sách từ khi bắt đầu hình thành cho đến khi kết thúc để chuyển sang ngân sách của năm tài chính mới.
Theo chu trình thì việc lập dự toán là khâu mở đầu nhằm xác định các mục tiêu, nhiệm vụ động viên nguồn lực cho ngân sách và phân phối các nguồn lực đó.
Như vậy, lập dự toán ngân sách thực chát là lập kế hoạch (dự toán) các khoản thu chi của ngân sách trong một năm ngân sách (hoặc trong một giai đoạn ngân sách dự kiến). Kết quả của khâu này là dự toán ngân sách được các cấp có thẩm quyền quyết định.

1.2. Mục tiêu của lập dự toán ngân sách nhà nước
- Phù hợp với những chính sách và các ưu tiên mà Nhà nước đã lựa chọn. Ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là bảng tổng hợp thu chi của Nhà nước trong một giai đoạn cụ thể mà còn là tấm gương phản ánh các chính sách, chương trình hành động của Nhà nước trong giai đoạn đó;
- Đảm bảo tính hiệu quả trong chi tiêu ngân sách. Tính hiệu quả phải được xem xét một cách toàn diện ở cả mặt hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội. Tuy nhiên trong thực tế, để đánh giá đúng và đầy đủ hiệu quả của chi tiêu ngân sách là một việc không hề đơn giản bởi không phải mọi khoản chi tiêu ngân sách đều đạt được cả hai mặt trên và có tác động như mong muốn. Nêu ra vấn đề này để thấy rằng đôi khi trong lập dự toán ngân sách, phải lựa chọn thứ tự ưu tiên giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội để phù hợp với từng hoàn cảnh và thời điểm cụ thể;
- Làm tăng hiệu quả hoạt động của khu vực công. Do bản chất là một kế hoạch sử dụng quỹ tiền tệ phục vụ cho hoạt động của Nhà nước nên một khi dự toán ngân sách phản ánh được đầy đủ các chương trình, dự án, hành động của Nhà nước, tính toán đầy đủ các khoản chi tiêu để tránh bị động trong thực hiện; gắn chi tiêu với kết quả và đầu ra của các chương trình.

1.3. Phương pháp lập dự toán
Khuôn khổ kinh tế vĩ mô là điểm khởi đầu của việc lập dự toán ngân sách. Việc lập dự toán ngân sách trong khuôn khổ kinh tế vĩ mô, dựa trên các giả định thực tế, không tính quá cao các chỉ tiêu về thu ngân sách, không tính quá tháp các khoản chi tiêu bắt buộc là hết sức quan trọng để đảm bảo tính khả thi của kế hoạch ngân sách.
Lập dự toán ngân sách hàng năm được thực hiện như sau:
- Cách tiếp cận từ trên xuống dưới, bao gồm: xác định tổng thể các nguồn lực sẵn có cho chi tiêu công cộng trong khuôn khổ kinh tế vĩ mô; chuẩn bị thông tư hướng dẫn lập ngân sách; hình thành số kiểm tra về thu, chi cho các bộ, các địa phương, đơn vị phù hợp với chính sách ưu tiên của Nhà nước.; thông báo số kiểm tra cho các bộ, địa phương, đơn vị;
- Cách tiếp cận từ dưới lên, bao gồm: các bộ, địa phương, đơn vị đề xuất ngân sách của mình trên cơ sở các hướng dẫn ở trên;
- Trao đổi, đàm phán, thương lượng: đàm phán ngân sách giữa các bộ, đơn vị với cơ quan tài chính là quá trình rất quan trọng để xác định dự toán ngân sách cuối cùng trình lên cơ quan lập pháp trên cơ sở đạt được sự nhất quán giữa mục tiêu và nguồn lực sẵn có.

1.4. Căn cứ lập dự toán
Để dự toán ngân sách thật sự trở thành công cụ hữu ích trong điều hành ngân sách, lập dự toán ngân sách phải căn cứ vào các nhân tố chủ yếu sau:
- Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng nói chung và nhiệm vụ cụ thể của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác ở trung ương và địa phương;
- Căn cứ vào phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước;
- Chính sách, chế độ thu ngân sách; tỷ lệ % phân chia các khoản thu và mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới; chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách;
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách. Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán ngân sách; Thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoach và Đầu tư về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước và văn bản hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân các cấp;
- Số kiểm tra về dự toán thu, chi ngân sách nhà nước;
- Tình hình thực hiện ngân sách nhà nước của các năm trước, đặc biệt là năm báo cáo.

1.5. Chấp hành ngân sách nhà nước
Chấp hành ngân sách nhà nước là khâu tiếp theo sau khi dự toán ngân sách đã được phê duyệt. Đó là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các khoản thu, chi trong kế hoạch ngân sách nhà nước năm trở thành hiện thực.

1.5.1. Mục tiêu của việc chấp hành ngân sách nhà nước
- Biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch ngân sách năm từ khả năng, dự kiến thành hiện thực. Từ đó góp phần thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạc phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;
- Kiểm tra việc thực hiện các chế độ, chính sách, tiêu chuẩn về kinh tế và tài chính;
- Đối với quản lý ngân sách nhà nước, chấp hành ngân sách nhà nước là khâu trọng tâm có ý nghĩa quyết định đến một chu trình ngân sách.

1.5.2. Nội dung tô chức chấp hành ngân sách nhà nước
Tổ chức chấp hành ngân sách nhà nước bao gồm tổ chức thu ngân sách nhà nước và tổ chức chi ngân sách nhà nước.
- Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu, gửi cơ quan tài chính cuối quý trước. về nguyên tắc, toàn bộ các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc nhà nước, trừ một số khoản cơ quan thu có thể thu trực tiếp song phải định kỳ nộp vào Kho bạc theo quy định;
- Tổ chức chi ngân sách nhà nước bao gồm các khâu:
+ phân bổ và giao dự toán chi ngân sách: các đơn vị dự toán cấp I sau khi nhận được dự toán của cấp trên giao, tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các
đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc. Dự toán chi ngân sách bao gồm dự toán chi thường xuyên và dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản;
+ lập nhu cầu chi quý: trên cơ sở dự toán năm được giao, các đơn vị sử dụng ngân sách lập nhu cầu chi ngân sách quý (có chia ra tháng) chi tiết theo các nhóm mục chi gửi Kho bạc nhà nước và cơ quan tài chính cuối quý trước để phối hợp thực hiện chi trả cho đơn vị.
Cơ chế kiểm soát ngân sách trong quá trình chấp hành: Luật Ngân sách nhà nước quy định chỉ có cơ quan thuế và các cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ thu mới được phép thu ngân sách nhà nước. Toàn bộ các khoản thu ngân sách phải được nộp vào Kho bạc, hạn chế đến mức thấp nhất qua người trung gian. Chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có có điều kiện sau: đã có trong dự toán, đúng chế độ chuẩn mực, được thủ trưởng đơn vị quyết định chi.

1.6. Quyết toán ngân sách
1.6.1. Khái niệm, mục đích
Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách. Đó là việc tổng kết, đánh giá lại toàn bộ quá trình hoạt động thu, chi ngân sách trong một năm ngân sách, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý điều hành thu chi trong năm ngân sách đã qua của đơn vị minh cho các cơ quan quản lý cấp trên và các chủ thể khác có liên quan.
Mục đích của việc quyết toán ngân sách là nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động thu, chi ngân sách; từ đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm.

1.6.2. Phương pháp lập quyết toán
Quyết toán ngân sách nhà nước thường được thực hiện theo phương pháp lập từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên. Với phương pháp này cho phép công tác lập quyết toán được thực hiện đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan với tình hình hoạt động thu, chi ngân sách.

1.6.3. Yêu cầu đối với báo cáo quyết toán ngân sách
- Số liệu báo cáo quyết toán phải trung thực, chính xác, đầy đủ. Nội dung báo cáo phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao (hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép) và chi tiết theo mục lục ngân sách nhà nước;
- Số liệu trên sổ kế toán của đơn vị phải bảo đảm cân đối và khớp đúng với chứng từ thu, chi ngân sách của đơn vị và số liệu của cơ quan tài chính, Kho bạc về tổng số và chi tiết;
- Mẫu báo cáo quyết toán phải theo quy định của Bộ Tài chính.